Hạt gạo Mường trời

Cái tên Mường Thanh là đọc chệch của từ Mường Then có nghĩa là cõi trời – mường trời từ xa xưa đã nổi danh gắn liền với hạt gạo thơm ngon và là vựa lớn nhất vùng núi phía bắc. Hẳn thế mà trên những vùng đất có người Thái cư trú vẫn truyền khẩu:“Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” đó cách xếp hạng thứ bậc cho các đồng lúa Mường Thanh (Điện Biên Phủ), Mường Lò (Yên Bái), Mường Than (Lai Châu), Mường Tấc ( Sơn La).

Trong sách "Kiến văn tiểu lục", nhà bác học Lê Quý Đôn đã giới thiệu về cánh đồng Mường Thanh rằng: "Thế núi vòng quanh, ruộng đất bằng phẳng, màu mỡ… công việc làm ruộng bằng nửa công việc các châu khác mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi…".

Nghệ nhân Hoàng Thím, một già làng và là một tay đàn tính tẩu cừ khôi của dân tộc Thái luôn lưu giữ những hình ảnh của Mường Thanh trong ký ức. Mường Thanh đối với ông và người Thái trắng mãi mãi là mường trời, là nơi gắn với truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Thái.

hat gao muong troi Hạt gạo Mường trời

Với ánh mắt xa xăm như nhìn về cõi khác và giọng kể như đang hát “khắp” (một điệu hát truyền thống của dân tộc Thái), ông đưa chúng tôi vào sử thi kể về hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần. Tạo Xuông đã dừng chân ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái đen khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào. Còn Tạo Ngần lên Mường Thanh ngày nay, xây dựng bản làng người Thái trắng để trồng lúa nước rồi từ đó tạo nên danh tiếng của hạt gạo nơi đây.

Hạt gạo từ cánh đồng Mường Thanh giờ với tên gọi gạo Điện Biên và đã trở thành đặc sản. Chẳng vậy mà có những con buôn hám lợi trộn gạo kém chất lượng vào gạo Điện Biên để bán kiếm lời khiến cho người tiêu dùng bức xúc. Cô bạn tôi bầy, muốn ăn gạo Điện Biên “xịn” thì vào siêu thị có uy tín, mua ngoài đường, ngoài chợ thì chỉ ăn được gạo giả Điện Biên thôi, lấy đâu ra cơm trắng ngần, thơm dịu dàng như gạo thật.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hàng nghìn thanh niên theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ xung phong lên Tây Bắc xây dựng kinh tế mới. Bãi chiến trường ngổn ngang hầm hào công sự, vỏ đạn, dây thép gai được những con người nhiệt huyết ấy san lấp trả lại diện mạo cho cánh đồng lúa Mường Thanh.

Anh bạn tôi là thành quả của một mối tình đẹp giữa hai con người lên tái thiết Mường Thanh. Xuống Thủ đô theo học, anh mang trong ba lô hành trang câu thơ “Hoa anh túc tím đôi bờ Nậm Rốm”. Anh bảo cuộc chiến phá bỏ cây anh túc trên cánh đồng Mường Thanh là cả một kỳ tích. Khi đó những kẻ mất quyền lợi từ việc trồng cây anh túc tuyên truyền rằng hạt gạo thơm gon là do có hương hoa anh túc tỏa lên bông lúa, không có cây anh túc thì cây lúa Mường Thanh không đơm hoa kết bông được mà có ra được bông thì cũng chẳng còn thơm ngon được nữa.

Rồi những con người thuần khiết một nắng hai sương với gắn bó với cánh đồng Mường Thanh bằng mồ hôi và sức lao động chân chính đã chứng minh được rằng; chính chất đất, khí núi hương rừng Mường Thanh và nước từ dòng Nậm Rốm từ ngàn xưa đã đã chắt chiu tinh chất để cây lúa vụ nào cũng trổ bông trĩu hạt. Và từ đó Mường Thanh đã sạch bóng cây anh túc, thứ cây đã làm cho bao người dân nơi đây lâm vào cảnh làm nô lệ cho thuốc phiện.

Thời kỳ đó cánh đồng “Nhất Thanh” chỉ cấy được một năm một vụ lúa vì không có nguồn nước tưới và năng suất rất thấp, cả tỉnh phải phụ thuộc vào nguồn trợ cấp lương thực từ Trung ương. Năm 1965 hơn 2.000 thanh niên với sức trẻ nhiệt huyết chỉ với những dụng cụ thô sơ: cuốc, xẻng, xà-beng, họ lội bùn, gánh đất, phá đá, đắp đê cùng xây dựng công trình đại thủy nông Nậm Rốm lấy nước tưới cho cánh đồng Mường Thanh.

Bốn năm trời đằng đẵng trôi đi, những con người với sức trẻ Phù Đổng ấy đã xây dựng được một đập ngăn sông, một tường chắn sóng, đào và đắp một kênh chính dài một ki-lô-mét và hệ thống kênh tả, kênh hữu dài ba mươi tư ki-lô-mét ôm trọn lòng chảo Mường Thanh.

Có thời kỳ bốn tháng liền, hơn 2.000 con người phải ăn ngô hạt bởi thiếu lương thực; rồi những trận sốt rét, bạo bệnh như muốn đánh ngã họ. Vậy sự đói khổ, gian truân đã phải chịu khuất phục để công trình được hoàn thành vào năm 1969. Đã có 18 con người vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này vì công trình đại thủy nông Nậm Rốm. Chị Phạm Thị Ngọ một người con gái Hà Nội là người đầu tiên hy sinh vì một tai nạn nổ mìn phá đá. Chị được an táng dưới gốc đa trên quả đồi ngay gần công trường. Quả đồi đó, đến giờ vẫn được nhân dân trìu mến gọi tên là đồi Cô Ngọ.

Đã có rất nhiều những chàng trai cô gái bén duyên trong những ngày lao động vất vả đó. Vùng lòng chảo đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Hồ chứa nước Ba Khoang đầu nguồn thủy nông Nậm Rốm đã giúp mở rộng diện tích lúa cánh đồng Mường Thanh lên gấp gần ba lần so với trước. Ba vụ một năm, nhờ áp dụng nhiều giống lúa mới, năng suất lúa đã tăng từ 4,5 tấn/1ha lên 6,8 tấn/1ha, nhiều khu vực đã hình thành khu ruộng 50 triệu đồng/1ha. Mường Thanh giờ là bạt ngàn bốn mùa lúa, ngô xanh tốt, còn đâu hố bom, lô cốt hầm hào ngày nào. Gạo Mường Thanh là gạo tám hạt nhỏ và gạo nếp hạt tròn mang thương hiệu gạo Điện Biên đã giúp bao gia đình thoát nghèo vươn lên khấm khá và trở thành niềm tự hào của mỗi người dân Điện Biên hôm nay.